3 cách chế biến phân ủ đạt hiệu quả cao

1:50 07/11/2019 Tác giả

Có 3 pha chính có thể được phân biệt trong tiến trình ủ phân: pha nóng, pha nguội và pha hoàn thiện. Tuy nhiên, các giai đoạn này không thể tách biệt nhau một cách rõ ràng như sau:

Pha nóng:

Trong vòng 3 ngày tạo đống ủ, nhiệt độ trong đống ủ tăng lên tới 60 đến 70 độ C và luôn duy trì ở mức nhiệt độ này trong vòng 2–3 tuần. Hầu hết sự phân hủy xảy ra trong pha nóng. Trong pha này, vi khuẩn hoạt động là chủ yếu. Nhiệt độ cao là kết quả của năng lượng được giải phóng ra trong quá trình chuyển đổi các vật liệu dễ bị phân hủy bởi vi khuẩn.

Nhiệt độ nóng là phần quan trọng và điển hình của quá trình ủ phân. Sức nóng tiêu diệt sâu bệnh, rễ và các hạt cỏ. Trong pha đầu tiên, vi khuẩn cần lượng ôxy rất cao để phát triển nhanh chóng quần thể của chúng. Nhiệt độ cao trong đống ủ cho thấy có sự cung cấp ôxy đầy đủ cho vi khuẩn. Nếu không có đủ oxy trong đống ủ, sự phát triển của vi khuẩn sẽ bị cản trở và đống ủ sẽ càng có mùi khó chịu.

Ẩm độ cũng là yếu tố thiết yếu cho tiến trình ủ phân. Vì vi khuẩn yêu cầu điều kiện ẩm cho các hoạt động của chúng. Nhu cầu về nước là lớn nhất trong pha nóng vì hoạt động sinh học cao và sự bốc hơi mạnh mẽ xảy ra trong pha này. Vì nhiệt độ tăng nên độ pH của đống ủ tăng lên (nghĩa là độ axit giảm).

Pha nguội:

Khi vật liệu được vi khuẩn đồng hóa dễ dàng, nó đã được biến đổi, nhiệt độ trong đống ủ giảm dần xuống một cách từ từ và sẽ duy trì ở 25–45 °C. Cùng với sự giảm nhiệt, nấm ổn định lại và bắt đầu phân hủy rơm, sợi và vật liệu gỗ. Vì tiến trình phân hủy này chậm hơn nên nhiệt độ của đống ủ không tăng. Khi nhiệt độ hạ xuống, độ pH của vật liệu ủ giảm xuống (nghĩa là độ axit tăng lên)

Pha hoàn thiện:

Trong pha hoàn thiện, phân ủ cần rất ít nước so với pha nóng. Trong pha hoàn thiện các dinh dưỡng được khoáng hóa, các axit humic và chất kháng sinh được xây dựng lên. Các giun đỏ và sinh vật đất khác bắt đầu sinh sống ở đống ủ trong pha này.

Khi kết thúc pha này, phân ủ bị mất đi một nửa khối lượng ban đầu của nó. Nó có màu tối, nhiều dinh dưỡng và sẵn sàng để dùng. Nó càng được bảo quản lâu hơn từ pha này, thì càng xốp như một loại phân bón, khi đó năng lực để cải tạo cấu trúc đất của nó tăng lên.

Tiến hành ủ phân cần chú ý gì?

Vị trí:
Vị trí lý tưởng để ủ phân là gần nguồn vật liệu ủ và cánh đồng sẽ được bón phân. Nơi ủ nên có bóng mát và gần nguồn nước. Nên tránh những nơi bị đọng nước. Đống ủ không nên đặt quá gần nhà vì đống ủ có thể thu hút chuột, rắn và mối… Và đôi khi không thể ngăn cản được mùi hôi.

Các vật liệu ủ:
Một đống ủ nên được xây dựng khi có sẵn nhiều vật liệu thực vật. Nếu trại/vùng sản xuất không cung cấp đủ vật liệu thực vật, nó có thể được thu thập từ các nguồn ở bên ngoài.

Tính toán thời gian:
Làm phân ủ tốt và dễ dàng trong mùa ẩm ướt vì mưa sẽ tiết kiệm được nhân công tưới nước.

Kích cỡ:
Đống ủ nên đạt tới một kích thước ít nhất là 1m3 để tiến trình ủ xảy ra tốt vì thế để có đủ độ thông thoáng đống ủ không nên rộng hơn 2.5 m và cao 1.5 m.

Phương pháp:
Nên lựa chọn phương pháp phù hợp với điều kiện khí hậu. Thêm một số vật liệu vào đống thu gom.

Lựa chọn các vật liệu chính

Thành phần cấu tạo của vật liệu ủ là rất quan trọng. Tỉ lệ C/N và cấu trúc của vật liệu có ảnh hưởng lớn tới quá trình ủ. Vật liệu giàu đạm ( tỉ lệ C/N thấp) thường góp phần tạo một cấu trúc không tốt. Làm cho sự thông khí không tốt nếu nó được ủ một cách riêng rẽ. Vật liệu có một cấu trúc tốt thường có hàm lượng đạm thấp (tỷ lệ C/N cao) và không đủ cung cấp lượng đạm để nuôi vi khuẩn. Hỗn hợp các vật liệu khác nhau giúp đạt một thành phần cấu tạo dinh dưỡng cân bằng và một cấu trúc cho phép có sự thông khí tốt.

Những vật liệu ủ thích hợp

  • Vật liệu thực vật: là một hỗn hợp cân bằng các nguyên liệu giàu đạm (N) và giàu
    cacbon (C).
  • Phân động vật: bò, lợn, (giàu K và P), gia cầm (rất giàu ), dê, ngựa vv…
  • Tro củi: chứa K, Na, Ca, Mg vv….
  • Đá phosphate: Lân kết tụ lại trong vật liệu hữu cơ vì thế nó rất ít được gắn vào các
  • khoáng đất. Do đó tốt hơn là nó được đưa vào đống ủ hơn là bón trực tiếp vào đất.
  • Một lượng đất nhỏ đặc biệt là đất nhiều sét hoặc đá dưới đất cải thiện tiến trình ủ và chất lượng của phân ủ. Chúng được trộn với vật liệu khác hoặc được sử dụng để che phủ đống ủ để làm giảm sự mất dinh dưỡng.

Những vật liệu không thích hợp để làm phân ủ

  • Vật liệu thực vật bị nhiễm bệnh như các bệnh virus hoặc nấm rỉ sắt.
  • Những loại cỏ tồn tại lâu năm trừ khi lúc đầu nó được phơi khô dưới nắng.
  • Vật liệu có nguồn gốc không tự nhiên như kim loại hoặc nhựa.
  • Những vật liệu là những bụi gai hoặc có gai cứng

Vật liệu càng thích hợp, bề mặt của nó càng bị dễ bị vi khuẩn phân hủy. Vật liệu có độ dài lý tưởng từ 2 đến 5 cm. Nếu một số vật liệu nhỏ hơn (như cỏ ngắn, rác thải bếp, tro), nó phải được trộn với vật liệu có kích thước lớn để đảm bảo độ thông khí tốt trong đống ủ.

Để có một tiến trình ủ phân lý tưởng, hỗn hợp nên bao gồm khoảng chừng:

  • 1/3 lượng vật liệu có kích thước lớn với nhiều cấu trúc (những cành, vỏ cây được cắt ngắn và những vật liệu lớn được tách riêng ra từ phân ủ trước)
  • 1/3 lượng vật liệu phù hợp có kích thước trung bình với tỉ lệ C/N cao (rơm, lá cây, tàn dư cây trồng vv…)
  • 1/3 lượng vật liệu phù hợp có tỉ lệ C/N thấp (rác thải gia đình, phân động vật vv…) Trên 10 % là đất.

Tags:

Danh mục: , , , ,

Người biên tập: Lê Hữu Hùng